2023
2022
Năm thứ. 172, Tháng 12/2022
Năm thứ. 171, Tháng 12/2022
Năm thứ. 170, Tháng 12/2022
Năm thứ. 169, Tháng 12/2022
Năm thứ. 168, Tháng 12/2022
Năm thứ. 167, Tháng 12/2022
Năm thứ. 166, Tháng 12/2022
Năm thứ. 165, Tháng 12/2022
Năm thứ. 164, Tháng 12/2022
Năm thứ. 163, Tháng 12/2022
Năm thứ. 162, Tháng 12/2022
Năm thứ. 161, Tháng 12/2022
2021
Năm thứ. 151, Tháng 12/2021
Năm thứ. 156, Tháng 12/2021
Năm thứ. 153, Tháng 12/2021
Năm thứ. 159, Tháng 12/2021
Năm thứ. 157, Tháng 12/2021
Năm thứ. 152, Tháng 12/2021
Năm thứ. 149_150, Tháng 12/2021
Năm thứ. 155, Tháng 12/2021
Năm thứ. 158, Tháng 12/2021
Năm thứ. 154, Tháng 12/2021
Năm thứ. 160, Tháng 12/2021
2020
Năm thứ. 144, Tháng 12/2020
Năm thứ. 139, Tháng 12/2020
Năm thứ. 145, Tháng 12/2020
Năm thứ. 142, Tháng 12/2020
Năm thứ. 141, Tháng 12/2020
Năm thứ. 140, Tháng 12/2020
Năm thứ. 147, Tháng 12/2020
Năm thứ. 148, Tháng 12/2020
Năm thứ. 137_138, Tháng 12/2020
Năm thứ. 143, Tháng 12/2020
Năm thứ. 146, Tháng 12/2020
2019
Năm thứ. 136, Tháng 12/2019
Năm thứ. 134, Tháng 12/2019
Năm thứ. 132, Tháng 12/2019
Năm thứ. 133, Tháng 12/2019
Năm thứ. 128, Tháng 12/2019
Năm thứ. 130, Tháng 12/2019
Năm thứ. 131, Tháng 12/2019
Năm thứ. 135, Tháng 12/2019
Năm thứ. 129, Tháng 12/2019
Năm thứ. 125, Tháng 12/2019
Năm thứ. 127, Tháng 12/2019
Năm thứ. 126, Tháng 12/2019
2018
Năm thứ. 121, Tháng 12/2018
Năm thứ. 113, Tháng 12/2018
Năm thứ. 114, Tháng 12/2018
Năm thứ. 119, Tháng 12/2018
Năm thứ. 118, Tháng 12/2018
Năm thứ. 116, Tháng 12/2018
Năm thứ. 124, Tháng 12/2018
Năm thứ. 117, Tháng 12/2018
Năm thứ. 122, Tháng 12/2018
Năm thứ. 115, Tháng 12/2018
Năm thứ. 120, Tháng 12/2018
Năm thứ. 123, Tháng 12/2018
Mở rộng
|
Năm thứ. 121 , Tháng 12/2018 |
|
|
|
Công bố thông tin về quản lý rủi ro của các công ty thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam
(trang 1-1)
Võ Hoàng Tùng & Nguyễn Hữu Cường
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Theo hiểu biết của chúng tôi, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá mức độ công bố thông tin (CBTT)về quản lý rủi ro (QLRR)của các công ty niêm yết (CTNY)thuộc ngành tài chính ở Việt Nam.Nghiên cứu này đánh giá mức độ CBTTbắt buộc và tùy ý về QLRR trong các báo cáo tài chính (BCTC) của các CTNY thuộc ngành tài chính ở Việt Nam. Vận dụng phương pháp phân tích nội dung, nghiên cứu này đã ghi nhận được mức độ CBTT về QLRR bởi các đơn vị nàycòn tương đối thấp. Kết quả phân tích hồi quy cũng chứng tỏ rằng mức độ CBTT về QLRRbị ảnh hưởng bởiquy mô DN, khả năng thanh toán, tỷ suất nợ và tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành.
Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Philippines từ góc nhìn của các yếu tố ảnh hưởng
(trang 1-1)
Phạm Minh Đạt & Ngô Thị Mỹ
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Bài viết sử dụng bộ số liệu mảng trong giai đoạn 2000 - 2017 nhằm phân tích thực trạng và làm rõ một số yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Philippines bằng mô hình trọng lực hấp dẫn. Kết quả cho thấy các yếu tố bao gồm GDP của Philippines và quốc gia đối tác, dân số của quốc gia đối tác, độ mở nền kinh tế của Philippines và quốc gia đối tác, FDI vào Philippines, khoảng cách địa lý giữa Philippines và quốc gia đối tác, tỷ lệ lạm phát của Philippines, việc Philippines và quốc gia đối tác cùng là thành viên của APEC hay cùng sử dụng ngôn ngữ chung đều có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Philippines.
An Emprical Study of Top Management Characteristics and Entrepreneurship on Firms Competence and Performance
(trang 1-1)
Ching-Feng Chang & Yan-Ting Lai & Hsin-Kuang Chi
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Kể từ khi Hambrick và Mason đề ra thuyết cao cấp (upper echelon theory) vào năm 1984, vấn đề về nhóm quản trị cấp cao (TMT) đã được nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản trị thực tế quan tâm chú ý. Nhất là trong một thế giới năng động, đang vận hành nhanh chóng và toàn cầu hóa hiện nay, ý nghĩa của TMT đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. TMT là linh hồn của tổ chức do họ đưa ra những quyết định chiến lược, có tác động tới tương lai của doanh nghiệp. Hơn nữa, hiệu quả cao bắt nguồn từ khả năng học hỏi của doanh nhiệp, thái độ đối với các hoạt động của doanh nhân và sự tập trung vào năng lực cốt lõi. Tất cả những yếu tố này đều có ảnh hưởng tới đặc điểm của TMT. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích tổng hợp những lý thuyết liên quan để phát triển mô hình nghiên cứu toàn diện cũng như tìm hiểu mối quan hệ giữa đặc điểm của TMT, khả năng tiếp thu, năng lực cốt lõi, định hướng doanh nhân và hiệu quả quản trị.
Tiềm năng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
(trang 1-1)
Phan Thanh Hoàn
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích tiềm năng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bằng việc sử dụng các chỉ số thương mại và tính toán cơ cấu xuất khẩu các nhóm sản phẩm của ngành, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: CPTPP là thị trường chính của hàng thủy sản Việt Nam, tuy nhiên mức độ tập trung thương mại chỉ ở một vài thành viên CPTPP như Nhật Bản, Úc và Canada. Lợi thế cạnh tranh của ngành cũng như hầu hết các nhóm sản phẩm phân theo mã HS của ngành rất cao, tuy nhiên đang có xu hướng giảm dần theo thời gian. Bên cạnh đó, mức độ tập trung thương mại của ngành mới chỉ thể hiện ở một số nhóm sản phẩm và thị trường nhất định. Còn nhiều nhóm sản phẩm vẫn đang có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào CPTPP thấp hơn tốc độ tương ứng của thế giới. Như vậy, Việt Nam có cơ hội gia tăng xuất khẩu hàng thủy sản trong khu vực CPTPP. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ được tận dụng tối đa khi mà Việt Nam đảm bảo được quy tắc xuất xứ sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật của đối tác. Do đó, Việt Nam cần phải tăng cường năng lực, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất và chế biến, xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu, và nâng cao giá trị gia tăng của ngành.
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đa dạng hóa thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam
(trang 1-1)
Nguyễn Thu Hà & Phạm Tuấn Anh
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, với bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2012-2016 do Tổng cục Thống kê điều tra và công bố. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đa dạng hóa thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam bao gồm:(i) nhóm nhân tố về đặc điểm nhân khẩu của chủ hộ như tuổi, trình độ học vấn và dân tộc; (ii) Các nhân tố về đặc điểm của hộ gia đình như: quy mô hộ gia đình; tỷ lệ lao động; nguồn vốn nhân lực; tài sản; thu nhập bình quân; chi tiêu cho nhu cầu ăn uống thường xuyên và y tế; (iii) các đặc điểm của địa phương nơi cư trú của hộ gia đình như: xã thuộc chương trình 135, xã có chợ, xã có cơ sở sản xuất, xã có làng nghề và khoảng cách từ xã đến trung tâm khuyến nông gần nhất.
Quan hệ giữa quản trị chất lượng nhà cung cấp và kết quả hoạt động tại một số doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử Việt Nam
(trang 1-1)
Phan Chí Anh & Triệu Đình Phương
Bản điện tử: | DOI:
Tóm tắt
Sử dụng dữ liệu thu thập từ 100 doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử Việt Nam trongkhoảng thời gian từ 2017 - 2018, bài viết trình bày kết quả kiểm tra mối quan hệ giữa hoạt động quản trị chất lượng nhà cung cấp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả phân tích tương quan & hồi quy cho thấy các hoạt động đánh giá nhà cung cấp, chia sẻ thông tin với/bởi nhà cung cấp, sự tham gia của nhà cung cấp trong thiết kế sản phẩm, cải tiến chất lượng, hợp tác chiến lược với nhà cung cấp, liên kết công nghệ với nhà cung cấp có quan hệ tích cực với kết quả hoạt động về chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng, sự linh hoạt.
|
|